Hotline 247
04 6662 6362
 
Hà Nội
0968 378 899
 
Hồ Chí Minh
01289 777 888

Kháng thể (Phần 1)

BioMedia

Xem bài: Kháng thể (Phần 2) tại đây

Kháng thể (Antibody-AB), còn được biết như là globulin miễn dịch (immunoglobulin-Ig), là protein lớn, có hình chữ Y được tạo ra bởi bào tương để nhận dạng và trung hòa các yếu tố gây bệnh như là vi khuẩn và virut. Kháng thể nhận biết phân tử đặc biệt của tác nhân gây hại, được gọi là kháng nguyên, thông qua vùng biến đổi. Mỗi phần đầu mút hình chữ “Y” của kháng thể chứa vị trí nhận diện kháng nguyên (paratope – tương tự như là ổ khóa) đặc hiệu cho một yếu tố quyết định kháng nguyên cụ thể (epitope – tương tự giống như là chìa khóa) trên kháng nguyên, cho phép hai cấu trúc này gắn kết với nhau một cách chính xác. Sử dụng cơ chế gắn kết này, kháng thể có thể đánh dấu vi sinh vật gây bệnh hoặc tế bào bị xâm nhiễm cho sự tấn công của các phần khác của hệ miễn dịch, hoặc có thể trung hòa đích tác động của nó cách trực tiếp (ví dụ, bằng cách khóa phần của vi sinh vật gây bệnh cần thiết cho sự xâm nhập và sống sót của chúng). Khả năng để trao đổi thông tin của kháng thể với các thành phần khác thông qua vùng Fc của nó nằm ở phần chân đế của “chữ Y”), chứa vị trí glycosyl hóa được bảo toàn có liên quan tới các tương tác này.  Sản xuất kháng thể là chức năng chính của hệ miễn dịch dịch thể.

khang the 2

Nguồn ảnh: http://www.nature.com/

Kháng thể được tiết ra bởi các tế bào của hệ miễn dịch đáp ứng (tế bào B), và cụ thể hơn là, tế bào B đã được biệt hóa được gọi là tương bào. Kháng thể có thể tồn tại ở hai dạng về mặt vật lý, dạng tan trong nước được tiết ra từ các tế bào, và dạng liên kết với màng được gắn với bề mặt tế bào B và được đề cập đến như là thụ thể tế bào B (B cell receptor -BCR). BCR chỉ được tìm thấy trên bề mặt của tế bào B và thúc đẩy sự hoạt hóa của các tế bào này và sự biệt hóa tiếp sau đó của chúng có thể thành các nhà máy sản xuất kháng thể được gọi là tương bào hoặc tế bào B trí nhớ sẽ sống sót trong cơ thể và ghi nhớ rằng cùng loại kháng nguyên, vì vậy tế bào B có thể đáp ứng nhanh hơn với sự tiếp xúc trong tương lai. Trong phần lớn các trường hợp, sự tương tác của tế bào B với tế bào giúp đỡ T là cần thiết để tạo ra sự hoạt hóa toàn bộ tế bào B và, từ đó, tạo ra kháng thể tiếp sau đó là sự gắn kết kháng nguyên. Kháng thể tan trong nước được giải phóng vào máu và dịch mô, cũng như nhiều quá trình tiết khác để tiếp tục điều tra sự xâm nhiễm của các vi sinh vật.

Kháng thể là các glycoprotein thuộc liên họ globulin miễn dịch; các thuật ngữ kháng thể và globulin miễn dịchthường được sử dụng thay thế lẫn nhau. Mặc dù nói một cách chính xác, kháng thể không giống với globulin miễn dịch; tế bào B có thể tạo ra hai loại globulin miễn dịch – các globulin miễn dịch bề mặt, là các thụ thể tế bào B; và các globulin miễn dịch được tiết ra, là kháng thể. Do đó, kháng thể là một trong hai loại của globulin miễn dịch. Kháng thể điển hình là được tạo nên từ các đơn vị cấu trúc cơ bản- mỗi kháng thể có haichuỗi nặng lớn và hai chuỗi nhẹ nhỏ. Có một số loại khác nhau của chuỗi nặng của kháng thể được dựa trên năm loại khác nhau của các mảnh có thể kết tinh hóa Fc (crystallisable fragment-Fc) mà có thể được gắn với các mảnh gắn kết kháng nguyên. Năm loại của các vùng Fc cho phép kháng thể được nhóm lại thành nămisotyp. Mỗi vùng Fc của một isotyp cụ thể của kháng thể có khả năng gắn kết với thụ thể Fc đặc hiệu của nó (ngoại trừ IgD, nhất thiết là BCR), vì thế cho phép phức hệ kháng nguyên-kháng thể trung gian các vai trò khác nhau phụ thuộc vào FcR mà nó gắn kết.  Khả năng của kháng thể để gắn kết với FcR tương ứng của nó ngoài ra còn được điều biến bởi cấu trúc của (các) glycan có trong các vị trí bảo toàn bên trong vùng Fc của nó. Khả năng của kháng thể để gắn kết với các FcR giúp định hướng đáp ứng miễn dịch thích hợp cho mỗi loại khác nhau của vật ngoại lai mà chúng đối mặt.  Ví dụ, IgE chịu trách nhiệm cho đáp ứng dị ứng bao gồm sự giải phóng hạt của dưỡng bào và giải phóng histamin. Phần nhận biết kháng nguyên Fab của IgE gắn vớikháng nguyên dị ứng, ví dụ, các hạt mạt bụi nhà, trong khi vùng Fc của nó gắn với thụ thể ε của Fc. Sự tương tác giữa dị ứng nguyên-IgE-FcRε trung gian cho sự dẫn truyền tín hiệu dị ứng để cảm ứng các tình trạng bệnh như là bệnh hen.

Nguồn ảnh: http://docsachysinh.com/

Mặc dù cấu trúc chung của tất cả kháng thể là rất giống nhau, một vùng nhỏ ở phần đầu của protein này là cực kỳ dễ biến đổi, cho phép hàng triệu kháng thể với các cấu trúc ở phần đầu, hoặc các vị trí gắn kết kháng nguyên khác nhau rất nhỏ, tồn tại. Vùng này được biết như là vùng siêu biến. Mỗi biến thể trong số các biến thể này có thể gắn kết với một kháng nguyên khác nhau. Sự đa dạng cực kỳ này của các phần nhận biết kháng nguyên của kháng thể trên các mảnh gắn kết kháng nguyên cho phép hệ miễn dịch nhận biết lượng kháng nguyên đa dạng tương đương. Tập hợp lớn và đa dạng của phần nhận biết kháng nguyên của kháng thể được tạo ra bởi các sự kiện tái tổ hợp ngẫu nhiên của một nhóm các phân đoạn gen mã hóa cho các vị trí gắn kết kháng nguyên khác nhau (hoặc các phần nhận biết kháng nguyên), tiếp theo sau là các đột biếnngẫu nhiêu trong khu vực gen của kháng thể, tạo ra sự đa dạng hơn nữa. Quá trình tái tổ hợp này tạo ra đa dạng các phần nhận biết kháng nguyên của dòng kháng thể được gọi là quá trình tái tổ hợp V(D)J hoặc VJ. Về cơ bản là, phần nhận biết kháng nguyên của kháng thể là đa gen, được tạo nên từ ba gen, V, D, và J. Mỗi lucut của phần nhận biết kháng nguyên cũng là locut đa hình, sao cho trong suốt sự sản xuất kháng thể, một alen V, một alen D, và một alen J được chọn. Sau đó, các phân đoạn gen này được nhóm lại với nhau bằng cách sử dụng sự tái tổ hợp di truyền ngẫu nhiên để tạo ra phần nhận biết kháng nguyên. Các vùng trong đó các gen ngẫu nhiên là được tái kết hợp lại với nhau là vùng siêu biến được sử dụng để nhận biết các kháng nguyên khác nhau trên một dòng cơ sở.

Các gen của kháng thể cũng được tái tổ chức theo một quá trình được gọi là chuyển lớp kháng thể làm thay đổi một loại của mảnh Fc của chuỗi nặng Fc thành một loại khác, tạo ra một isotyp khác của kháng thể mà giữ được vùng biến đổi đặc hiệu kháng nguyên. Quá trình này cho phép một kháng thể đơn được sử dụng bởi các loại thụ thể Fc khác nhau, được biểu hiện trên các phần khác nhau của hệ miễn dịch.

Xem bài: Kháng thể (Phần 2) tại đây

Dịch và tổng hợp từ WIKIPEDIA

BioMedia VN

Các bài viết cùng chủ đề

Kháng thể (Phần 1)

Xem bài: Kháng thể (Phần 2) tại đây Kháng thể (Antibody-AB), còn được biết như là globulin miễn dịch (immunoglobulin-Ig), là protein lớn, có hình chữ Y được tạo ra...

Nuôi cấy mô tế bào thực vật

1. Nuôi cấy mô tế bào thực vật là gì? Nuôi cấy mô tế bào thực vật là tổng hợp những kỹ thuật được sử...

Phân tích tế bào theo dòng chảy (Flow cytometry)

Phân tích tế bào theo dòng chảy (Flow cytometry) Trong công nghệ sinh học, phân tích tế bào theo dòng chảy là một kỹ thuật...

Nuôi cấy thành công tế bào gan người có chức năng

Gan là cơ quan nội tạng lớn nhất trong cơ thể và là vị trí chính trong việc chuyển hóa thuốc và giải độc tố....